Sau suy thoái tài chính năm 2008, tăng trưởng kinh tế ở eurozone đã trở nên thụt lùi hơn so với Mỹ, và vẫn tiếp tục suy thoái do ảnh hưởng của dịch Covid-19 và xung đột Nga – Ukraine.

Vào ngày 31/10, cơ quan thống kê thuộc liên minh châu Âu (EU) đã thông báo rằng GDP của quý III của 20 nước trong eurozone giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, quý trước đó, khối này vẫn ghi nhận mức tăng 0,6%.

untitled

Số liệu này hoàn toàn đối nghịch với tình hình của Mỹ, khi mà quý III, Mỹ đã tăng trưởng mạnh mẽ lên gấp đôi so với quý II với mức tăng 4,9%.

Lạm phát tại châu Âu đang có chiều hướng giảm đi, trong khi Mỹ lại ghi nhận sự gia tăng của lạm phát. Số liệu công bố vào hôm qua cho thấy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng 10 tăng 2,9% so với cùng kỳ năm 2022, đây là mức thấp nhất trong vòng hai năm qua. Lạm phát lõi (loại trừ giá năng lượng và thực phẩm) cũng đã giảm từ 4,5% tháng 9 xuống còn 4,2% trong tháng 10.

Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, tăng trưởng kinh tế của eurozone đã bị tụt lại so với Mỹ, và khoảng cách này ngày càng lớn thêm kể từ khi dịch Covid-19 bùng phát vào đầu năm 2020.

Tình hình này càng trở nên rõ rệt hơn sau xung đột Nga – Ukraine vào năm 2022, khi giá năng lượng và thực phẩm tăng mạnh, đặt áp lực lớn lên người tiêu dùng châu Âu. Do phải nhập khẩu một lượng lớn năng lượng, châu Âu đối mặt với áp lực tăng giá khí đốt và điện. Trong khi đó, Mỹ, là một trong những người xuất khẩu năng lượng hàng đầu trên thế giới, lại hưởng lợi từ tình hình này.

Trên phạm vi toàn cầu, người tiêu dùng đang dần chuyển từ việc mua sắm hàng hóa sang tiêu dùng dịch vụ, và tình hình ngoại thương đang giảm đi do căng thẳng địa chính trị. Điều này đặt ra thách thức lớn đối với các quốc gia sản xuất và xuất khẩu lớn như Đức. Chính phủ các nước châu Âu cũng không thể hỗ trợ nhu cầu bằng cách tương tự như Mỹ.

Geraldine Dany-Knedlik, đồng giám đốc phụ trách chính sách tại Viện nghiên cứu Kinh tế DIW Berlin, đã nhận định, “Kinh tế Đức đang trải qua giai đoạn khó khăn với sự cản trở từ lãi suất tăng, giá năng lượng cao và nhu cầu ngoại thương yếu.”

Sự chênh lệch về tăng trưởng và lạm phát giữa châu Âu và Mỹ cho thấy rằng việc tăng lãi suất của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã có tác động đáng kể đến nền kinh tế của khu vực này, nơi mà đã có nhiều thách thức phức tạp.

“Những đợt tăng lãi suất trước đây của chúng tôi vẫn đang ảnh hưởng mạnh đến tình hình tài chính. Nhu cầu đang ngày càng bị giới hạn,” Chủ tịch ECB Christine Lagarde đã chia sẻ trong một cuộc họp báo diễn ra cách đây một tuần.

ECB đã nâng lãi suất liên tục trong 10 phiên họp và chỉ mới ngừng lại ở cuộc họp gần đây nhất. Cơ quan này dự đoán rằng mức lãi suất hiện tại sẽ tiếp tục tạo áp lực lên nền kinh tế, ít nhất là trong quý I của năm sau.

Nhiều người đã chỉ trích việc ECB cố gắng đạt kèm với chính sách tiết kiệm tại Mỹ, trong khi kinh tế của họ đang đối mặt với nhiều thách thức hơn, đã khiến khoảng cách giữa hai bên ngày càng lớn. Erik F. Nielsen, cố vấn kinh tế tại UniCredit Bank (Italy), đã nhận xét, “Chúng ta đã tụt lại so với Mỹ trong vòng 15 năm qua. Lúc này, tôi lo rằng chúng ta có thể thấy thêm chênh lệch về thu nhập trung bình do các chính sách sai lầm.”

Tình hình kinh tế yếu kém ở eurozone cũng ảnh hưởng đến nhiều nền kinh tế khác trên toàn thế giới. Trong 8 tháng đầu năm, nhập khẩu từ EU từ Trung Quốc đã giảm 15,4% so với cùng kỳ năm trước. Các số liệu cho thấy sự giảm số lượng nhập khẩu từ Anh cũng là 13,7%, trong khi nhập khẩu từ Mỹ gần như không thay đổi, vì châu Âu đã ưu tiên Mỹ là nhà cung cấp khí đốt tự nhiên thay vì Nga.

Sau xung đột Nga – Ukraine, giá nhiên liệu và thực phẩm tại châu Âu đã tăng mạnh hơn so với Mỹ, gây giảm sức mua cho các hộ gia đình. Trên toàn thế giới, người tiêu dùng đang dần dịch chuyển từ mua sắm hàng hóa sang việc tiêu dùng dịch vụ sau đại dịch. Tuy nhiên, tình hình biến động này tại châu Âu lại đáng kể hơn. Hồi tháng 8, doanh số bán lẻ tại eurozone đã giảm 7,5% so với đầu năm 2022, trong khi tại Mỹ chỉ giảm 1,8%.

Tiêu dùng tại Đức, nền kinh tế lớn nhất châu Âu, đã giảm 0,5% trong quý II, trong khi tại Mỹ con số này đã tăng 1,8%. Sang quý III, tiêu dùng tại Mỹ tiếp tục gia tăng, trong khi ở Đức thì giảm đi.

Chi phí sản xuất cao của các nhà máy tiêu dùng nhiều nhiên liệu cũng đã khiến cho các ngành công nghiệp tại Đức giảm sản xuất. Sản lượng công nghiệp trong tháng 8 đã giảm 2,2% so với thời gian trước, trong khi đó sản xuất tại Mỹ đã tăng 2,3%.

Không có nhiều dấu hiệu cho thấy tăng trưởng kinh tế ở eurozone sẽ tăng lên trong vài tháng tới. Một cuộc khảo sát của S&P Global tuần trước đã cho thấy hoạt động của các doanh nghiệp trong khu vực này đang giảm mạnh nhất trong vòng 3 năm. Số đơn hàng mới cũng giảm mạnh, và các bộ phận mua sắm đang giảm nhân lực lần đầu tiên kể từ đầu năm 2021. Ngược lại, số liệu mới nhất cho thấy hoạt động sản xuất tại Mỹ đang gia tăng vào tháng 10.

Lương nhân công tại eurozone đang có xu hướng tăng nhanh hơn, tuy nhiên, các hộ gia đình vẫn cảm nhận rằng mức tăng lương này không đủ để đối phó với lạm phát.

Nhiều khu vực tại châu Âu đang đối mặt với những thách thức lớn hơn. Đức đang phải đối mặt với câu hỏi liệu họ có thể duy trì ngành công nghiệp hóa chất đủ lâu để tìm ra các nguồn năng lượng mới, sạch hơn và giá rẻ hơn hay không. Ngành công nghiệp hóa chất đang tiêu tốn một lượng lớn nhiên liệu.

BASF, tập đoàn hóa chất lớn nhất châu Âu, đã thông báo rằng doanh thu của họ trong 9 tháng đầu năm đã giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Do đó, họ sẽ giảm đầu tư mới.

“Tôi không ủng hộ trợ giá, nhưng có một thời điểm nào đó, tôi nghĩ rằng chính phủ cần đưa ra một giá điện phù hợp cho đến khi chúng tôi có thể tìm ra nguồn năng lượng thay thế. Khi đó, các ngành công nghiệp tiêu tốn nhiên liệu mới có cơ hội tồn tại,” Martin Brudermüller, CEO của BASF, đã kết luận.

Theo VnExpress.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!